Đánh giá hiệu quả xử lý Polyethylene glycol kết hợp để bảo tồn gỗ khảo ngập nước tại di tích Hoàng thành Thăng Long

Nguyễn Đức Thành*, Trần Văn Vũ

Viện Nghiên cứu Công nghiệp rừng

TÓM TẮT

Nghiên cứu này đánh giá hiệu quả bảo tồn gỗ khảo cổ ngập nước (WW) bằngphương pháp xử lý với Polyethylene glycol (PEG) theo 03 công thức thí nghiệm: PEG 2000, PEG 4000 và hỗn hợp PEG 2000 + PEG 4000, áp dụng cho mẫu gỗ Trà (Camellia sp.) khai quật tại Hoàng thành Thăng Long, Hà Nội. Mẫu gỗ (2 × 2 × 1 cm, n = 10 mẫu/ thí nghiệm) được ngâm trong dung dịch PEG ở 50°C, nồng độ tăng dần từ 10% đến 70% (w/w), thời gian ngâm mẫu trong mỗi cấp nồng độ là 7 ngày. Mức độ phân hủy của gỗ được đánh giá qua độ hút nước tối đa (Umax = 399%), xếp vào nhóm phân hủy trung bình. Kết quả cho thấy cả ba công thức đều cho hệ số chống co rút (ASE) vượt ngưỡng tối thiểu 75%, với giá trị lần lượt là 80,3% (PEG 2000), 78,6% (PEG 4000) và 85,2% (PEG 2000 + PEG 4000). Phần trăm tăng khối lượng (WPG) cao nhất ở PEG 2000 (285,1%), tiếp theo là hỗn hợp PEG 2000 + PEG 4000 (278,4%) và thấp nhất ở PEG 4000 (255,4%). Phân tích phương sai một chiều ANOVA và kiểm định Tukey HSD (α = 0,05) cho thấy hỗn hợp PEG 2000 + PEG 4000 có ASE cao hơn và có ý nghĩa thống kê so với PEG 4000 đơn lẻ (p = 0,011), trong khi không có sự khác biệt đáng kể giữa PEG 2000 + PEG 4000 và PEG 2000 (p = 0,178). Hỗn hợp PEG 2000 + PEG 4000 được đánh giá có hiệu quả bảo tồn WW hơn cả vì kết hợp ưu điểm thẩm thấu sâu vào vách tế bào của PEG 2000 và khả năng ổn định cấu trúc ruột tế bào gỗ của PEG 4000. Kết quả nghiên cứu cho thấy hỗn hợp PEG 2000 + PEG 4000 là phương pháp xử lý bảo quản mang lại độ ổn định kích thước tốt hơn so với việc sử dụng đơn lẻ PEG 2000 hoặc PEG 4000.

https://vjfs.vafs.gov.vn/js/article/view/1284